Th 4, 08/06/2022 | 10:00 SA

Xem với cỡ chữ Đọc bài viết Tương phản

Tình hình trước 1982: Đặt nền móng cho hoạt động sáng kiến - sáng chế

Phong trào sáng kiến - cải tiến kỹ thuật, bước khởi động cho hoạt động sở hữu trí tuệ sau này tại Việt Nam, đã trở thành nhân tố tất yếu của quá trình đưa những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào đời sống và hoạt động sản xuất. Đó là tiền đề để Chính phủ quyết định thành lập Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh - đơn vị sau này trở thành Cục Sáng chế (nay là Cục Sở hữu Trí tuệ) nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Ủy ban Khoa học Nhà nước.

Đẩy mạnh phong trào sáng kiến

Cách đây hơn 60 năm, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến lớn chưa lâu, dù tình hình kinh tế - xã hội ở miền Bắc đã dần ổn định và có chuyển biến tích cực, song giá trị sản lượng công nghiệp mới chỉ chiếm gần 20% tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp, chất lượng sản phẩm còn chưa cao và năng suất lao động còn thấp[1]. Thực tế này đã khiến Trung ương Đảng và Chính phủ nhanh chóng xác định: việc phát triển khoa học kỹ thuật nói chung và việc cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất nói riêng sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề. Với chủ trương ấy, ngay từ giai đoạn mới thành lập, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã có một đơn vị trực thuộc là Phòng Sáng kiến cải tiến kỹ thuật (sau này được tổ chức lại thành Bộ phận thường trực Hội đồng giám định sáng kiến phát minh) do Tổng thư ký trực tiếp chỉ đạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm triển lãm thành tích cải tiến kỹ thuật của công nhân Thủ đô (ngày 23-5-1959). Ảnh: hanoimoi.com.vn

Và để thúc đẩy hoạt động cải tiến này, từ năm 1959 đến 1965, Hội đồng Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản mới, tiêu biểu là Chỉ thị số 105-TTg ngày 11/3/1959 và Chỉ thị số 320-TTg ngày 15/12/1960 về việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến - phát minh của quần chúng, cũng như Chỉ thị 07-TTg ngày 22/1/1963 về việc nghiên cứu, bổ sung chế độ khen thưởng sáng kiến phát minh và bồi dưỡng thi đua nhằm hướng dẫn chi tiết hơn nhiệm vụ cho các Bộ, ngành. Với những chính sách mới, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã từng bước đảm nhận trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động sáng kiến, phát minh trong cả nước (tiêu biểu là xây dựng Điều lệ tạm thời về tổ chức Hội đồng xét duyệt sáng kiến các cấp, trong đó có quy định thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương để đánh giá và đề nghị mức khen thưởng đối với các sáng kiến đặc biệt có giá trị do các Bộ, ngành, địa phương đề nghị lên; xét giải quyết các khiếu nại về khen thưởng sáng kiến và tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu và đề xuất ý kiến về việc cải tiến công tác xét duyệt và khen thưởng sáng kiến). 

Đến năm 1964, Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương đã được thành lập với các thành viên gồm đại diện Ủy ban Khoa học Nhà nước, Tổng Công đoàn, Bộ Lao Động, Văn phòng thi đua Trung ương thuộc Phủ Thủ tướng, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng một số nhà khoa học có tên tuổi. Cùng với việc thành lập Hội đồng này, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước cũng quyết định thành lập Văn phòng thường trực của Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương - đơn vị sau đó trở thành bộ phận chuyên trách công tác sáng kiến và thường được gọi là Ban sáng kiến. Theo đó, Ban sáng kiến đã phối hợp với các bộ phận liên quan tập trung thực hiện nhiều biện pháp nhằm xây dựng và phát triển phong trào sáng kiến của quần chúng như chỉ đạo việc thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách công tác sáng kiến; nghiên cứu sửa đổi các chế độ khen thưởng sáng kiến. 

Kết quả lớn nhất của sự phối hợp đó là việc soạn thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định 20-CP ngày 8/2/1965 về “Điều lệ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và cải tiến nghiệp vụ công tác”. Đây không chỉ là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hóa sản xuất ở nước ta, mà còn là lần đầu tiên Chính phủ ban hành một văn bản đề cập tương đối cụ thể đến chế độ khen thưởng sáng kiến, trong đó quy định rõ khái niệm cũng như mức khen thưởng đối với từng loại sáng kiến, cách xác định mức thưởng và trả thưởng, quyền hạn thẩm tra và quyết định mức thưởng của thủ trưởng các ngành, các cấp. Nghị định còn quy định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương đối với công tác sáng kiến, trong đó Ủy ban Khoa học Nhà nước được giao trách nhiệm “tổ chức tốt việc đăng ký, xác minh, phổ biến và áp dụng sáng kiến trong phạm vi cả nước”, trở thành cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Với nhiệm vụ này, bộ phận Sáng kiến - Phát minh của Ủy ban đã khẩn trương soạn thảo các văn bản giải thích và cụ thể hóa Nghị định 20-CP, ví dụ như trình Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (tách ra từ Ủy ban Khoa học Nhà nước) ban hành Thông tư số 567/KHKT-PMSK ngày 9/7/1966 về việc tổ chức đăng ký, xác minh, áp dụng, phổ biến và khen thưởng sáng kiến.

Từ những chính sách kịp thời này, các phong trào cải tiến kỹ thuật của quần chúng ngày càng nở rộ. Đến đầu những năm 1970, các phong trào đã phát triển sâu rộng đến mức đòi hỏi phải có một bộ phận chuyên trách đủ mạnh để giúp lãnh đạo Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổ chức chỉ đạo hoạt động sáng kiến trong phạm vi cả nước. Trước bài toán ấy, năm 1973, Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh đã được thành lập nhằm tổ chức và chỉ đạo phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, khắc phục tình trạng tự phát, tản mạn và xây dựng chiến lược phát triển lâu dài. Vai trò của Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh càng được khẳng định rõ sau hai hội nghị quan trọng là: Hội nghị sáng kiến các tỉnh, thành phố toàn miền Bắc tại Hải Phòng (một trong những địa phương có phong trào sáng kiến phát triển mạnh nhất lúc bấy giờ) vào ngày 2-3/10/1973; và Hội nghị tăng cường công tác sáng kiến trong một số xí nghiệp, cơ quan thuộc Bộ, Tổng cục vào ngày 8-9/1/1074. 

Cú hích mở đầu giai đoạn mới

Dù đã có những bước tiến đáng kể, song, đứng trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa và cải tạo kỹ thuật, những người lãnh đạo của Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh nhận ra: không thể chỉ dừng lại ở các vấn đề sáng kiến, cải tiến kỹ thuật mà nhất thiết phải đề cập đến công tác sáng chế, bảo hộ sáng chế nếu muốn phát huy hơn nữa tinh thần sáng tạo của người dân.

Đó là lý do Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh đã đề xuất một số kiến nghị mới về công tác sáng chế - phát minh, trong đó nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của hoạt động sáng chế trên thế giới và việc “đã đến lúc nước ta phải ban hành Luật Sáng chế”. Trên cơ sở đề án tăng cường Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, một đề nghị về việc cho phép thành lập Cục Sáng chế đã được trình lên Hội đồng Chính phủ xem xét. Bên cạnh đó, các công tác liên quan đến hoạt động bảo hộ sáng chế cũng bắt đầu được triển khai như: tổ chức gửi đi xét nghiệm một vài đề nghị cải tiến kỹ thuật có tính chất sáng chế, tiếp nhận 25.000 bản mô tả sáng chế của Cộng hòa dân chủ Đức.

Nhằm củng cố và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động sáng kiến đã có và nhanh chóng triển khai hoạt động bảo hộ sáng chế ở Việt Nam, từ những năm 1980, Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh đã khẩn trương nghiên cứu và bắt tay vào việc soạn thảo một văn bản quy định về bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa. Sau một thời gian chuẩn bị, văn bản mà Phòng Quản lý Sáng chế - Phát minh soạn thảo đã được Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đồng ý trình Hội đồng Chính phủ, ban hành Nghị định số 31/CP ngày 23/1/1981 kèm theo Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và sáng chế. 

Không thể chỉ dừng lại ở các vấn đề sáng kiến, cải tiến kỹ thuật mà nhất thiết phải đề cập đến công tác sáng chế, bảo hộ sáng chế nếu muốn phát huy hơn nữa tinh thần sáng tạo của người dân.

Vậy là lần đầu tiên, ngoài những quy định về chế độ khen thưởng hay tổ chức chỉ đạo hoạt động sáng kiến như trước đây, Nghị định 31/CP đã đề cập đến việc bảo hộ sáng chế - đối tượng quan trọng nhất trong sở hữu công nghiệp. Cụ thể, điều lệ đã thể chế hóa quyền sáng tạo và các quyền lợi có liên quan của công dân theo tinh thần của Hiến pháp mới (1980) bằng việc quy định công tác tổ chức, quản lý hoạt động sáng kiến, sáng chế từ khâu tạo ra sáng kiến - sáng chế cho đến việc đăng ký, xét công nhận, áp dụng, tính toán hiệu quả kinh tế do sáng kiến - sáng chế đem lại. Và do tất cả các khâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau, nó cũng dẫn đến một đòi hỏi tất yếu là phải xây dựng một hệ thống quản lý và chỉ đạo thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đây chính là bước chuyển đánh dấu một giai đoạn mới trong hoạt động sáng tạo khoa học kỹ thuật ở Việt Nam. Có thể nói, việc ban hành Nghị định 31/CP chính là một “cú hích”, một dấu mốc quan trọng mở đầu cho hoạt động sở hữu công nghiệp ở nước ta và mở ra triển vọng cho việc thành lập một cơ quan nhà nước thực hiện chức năng xác lập quyền sở hữu công nghiệp và tổ chức chỉ đạo hoạt động sở hữu công nghiệp - đó chính là Cục Sáng chế sau này.

Chú thích 
[1]: https://www.most.gov.vn/vn/pages/lichsuphattrien.aspx?IDNews=6256



Tin mới nhất

Th 6, 13/05/2022 | 13:41 CH

Xem với cỡ chữ Đọc bài viết Tương phản

Các sự kiện giai đoạn trước năm 1982

Từng bước hình thành và phát triển hoạt động sáng kiến – thành lập Phòng Sáng chế phát minh, tổ chức tiền thân của Cục Sáng chế

- Ngày 11.3.1959: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 105-TTg về việc “tổ chức và lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng”, trong đó quy định nhiệm vụ của các ngành, các cấp đối với phong trào này.

- 22.01.1963: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 07-TTg về việc nghiên cứu, bổ sung chế độ khen thưởng sáng kiến phát minh và bồi dưỡng thi đua, trong đó nhiệm vụ của các Bộ, ngành liên quan đến sáng kiến được quy định một cách cụ thể hơn.

- Năm 1964:  Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương được thành lập gồm đại diện Ủy ban Khoa học Nhà nước, Tổng Công đoàn, Bộ Lao động, Văn phòng thi đua Trung ương thuộc Phủ Thủ tướng, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng một số nhà khoa học có tên tuổi.

- 08.02.1965: Nghị đinh 20-CP về “Điều lệ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và cải tiến nghiệp vụ công tác”. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất ở nước ta.

- 09.7.1966: Thông tư số 567/KHKT-PMSK của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước về tổ chức đăng ký, xác minh, áp dụng, phổ biến và khen thưởng sáng kiến.

- 1973: Ban Sáng kiến được đổi tên thành Phòng Sáng chế phát minh.

- 1973-1974: Phòng Sáng chế - Phát minh đã làm tốt công tác chuẩn bị và soạn thảo các Báo cáo trình bày trong hai Hội nghị quan trọng:  Hội nghị sáng kiến các tỉnh, thành phố toàn miền Bắc tại Hải Phòng trong hai ngày 2-3 tháng 10 năm 1973 và Hội nghị tăng cường công tác sáng kiến trong một số xí nghiệp, cơ quan thuộc Bộ, Tổng cục trong 2 ngày 8-9 tháng 1 năm 1974.

-  Phòng Sáng chế - Phát minh đã đề xuất một số kiến nghị về công tác hoạt động sáng chế phát minh cho các năm 1972-1976, trong đó nêu lên vai trò quan trọng của hoạt động sáng chế trên thế giới và "đã đến lúc nước ta phải ban hành Luật Sáng chế". Trên cơ sở đề án tăng cường Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, một đề nghị về việc cho phép thành lập Cục Sáng chế đã được trình lên Hội đồng Chính phủ xem xét. Các công tác chuẩn bị liên quan đến hoạt động bảo hộ sáng chế đã được triển khai như: tổ chức gửi đi xét nghiệm một vài đề nghị cải tiến kỹ thuật có tính chất sáng chế, tiếp nhận 25.000 bản mô tả sáng chế của Cộng hoà dân chủ Đức.

- 13.10.1975: Nghị định 192/CP về tổ chức hoạt động của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, trong đó Phòng Sáng chế phát minh là đơn vị trực thuộc.

- 23.01.1981: Nghị định 31/CP về Điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế. Nghị định số 31/CP đánh dấu một giai đoạn mới trong hoạt động sáng tạo khoa học kỹ thuật ở Việt Nam. Điều lệ đã thể chế hoá quyền sáng tạo và các quyền lợi có liên quan của công dân theo tinh thần của Hiến pháp mới (1980) bằng việc quy định công tác tổ chức, quản lý hoạt động sáng kiến, sáng chế từ khâu tạo ra sáng kiến - sáng chế, đăng ký, xét công nhận, áp dụng, tính toán hiệu quả kinh tế do sáng kiến - sáng chế đem lại. Tất cả các khâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau và cần thiết phải xây dựng một hệ thống quản lý và chỉ đạo thống nhất trong cả nước.