Th 4, 08/07/2026 | 11:20 SA
Cục Sở hữu trí tuệ tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Sáng ngày 30/6/2026, Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Nghị quyết số 10). Hội nghị do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì, chỉ đạo được tổ chức trực tiếp (tại điểm cầu Trung ương – Phòng họp Diên Hồng, tòa nhà Quốc hội, số 01 đường Độc Lập, Ba Đình, Hà Nội) kết hợp trực tuyến đến các điểm cầu tại các ban, bộ, ngành, đơn vị Trung ương, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ và điểm cầu cấp xã.
Dự Hội nghị tại điểm cầu trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ có các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ và toàn thể đảng viên trong Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ.
Mở đầu Hội nghị, các đồng chí đảng viên được xem đoạn phim tư liệu “40 năm thu hút đầu tư nước ngoài” và nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Có thể khái quát tinh thần cốt lõi của Nghị quyết bằng một nhận định: "Nghị quyết số 10-NQ/TW chuyển trọng tâm từ mục tiêu thu hút các dòng vốn quốc tế sang phát huy hiệu quả các dòng vốn đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia". Theo đó, nội dung trọng tâm của Nghị quyết bao gồm bốn nội dung lớn: (1) Bối cảnh và sự cần thiết ban hành Nghị quyết; (2) Những tư tưởng chỉ đạo và các điểm đổi mới cốt lõi; (3) Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm; (4) Những yêu cầu đặt ra đối với toàn hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện.
Để quán triệt đúng tinh thần Nghị quyết số 10, trước hết cần thống nhất nhận thức về bối cảnh và yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới (được khái quát thành 03 vấn đề lớn). Từ nhận thức đó, Nghị quyết đã đưa ra những tư tưởng chỉ đạo và các điểm đổi mới (được khái quát thành 06 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển). Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các mục tiêu của Nghị quyết không chỉ là những chỉ tiêu về thu hút đầu tư, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Nghị quyết đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, với 04 định hướng lớn: (i) Thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; (ii) Nâng cao chất lượng dòng vốn, phấn đấu 70-75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển và trên 50% tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (iii) Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; (iv) Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành điểm đến hàng đầu của các dòng vốn quốc tế chất lượng cao; đồng thời là trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10 xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, được khái quát thành 07 nhóm đột phá:
Thứ nhất, đổi mới nhận thức, thống nhất tư duy trong toàn hệ thống chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ hai, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với kết quả thực hiện cam kết về công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững.
Thứ ba, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệeu, tạo nền tảng thu hút các dự án công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư.
Thứ tư, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Thứ bảy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn.
Để các nhiệm vụ này sớm đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến thực chất, điều quyết định là tổ chức thực hiện Nghị quyết với sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị. Vì vậy các cấp, các ngành cần khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với lộ trình, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Đối với Đảng ủy Quốc hội, cần khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.
Đối với Đảng ủy Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, cần tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, phát huy liên kết vùng và bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong toàn xã hội.
Đối với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy vai trò đồng hành cùng Nhà nước trong hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 10 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện.
Ngay sau bài trình bày của đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Hội nghị lần lượt được nghe các bài tham luận của đại diện lãnh đạo các địa phương.
Đầu tiên, đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh tham luận nội dung "Đẩy mạnh triển khai Trung tâm tài chính quốc tế, tạo không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới".
Theo Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 10 có ý nghĩa chiến lược đối với giai đoạn phát triển mới của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đã chuyển dịch căn bản từ tư duy "thu hút vốn thuần túy" sang "nâng cao chất lượng, hiệu quả, lấy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia làm thước đo". Là địa bàn trọng điểm về thu hút FDI, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc trách nhiệm tiên phong trong hiện thực hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tính đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh có 20.259 dự án FDI, với tổng vốn gần 142 tỷ USD từ 152 quốc gia, vùng lãnh thổ và trong nửa đầu năm 2026, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút thành công hơn 6,8 tỷ USD vốn FDI, đạt 62% kế hoạch năm. Khu vực FDI chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu; và là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hội nhập quốc tế của Thành phố. Từ thực tiễn đó, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất ba vấn đề liên quan đến việc triển khai Trung tâm tài chính quốc tế để thu hút dòng vốn chất lượng cao và thế hệ mới.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy "thu hút dự án" sang "kiến tạo hệ sinh thái" để thu hút dòng vốn chất lượng cao;
Thứ hai, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế chính là giải pháp chiến lược để hiện thực hóa phương thức thu hút FDI mới của Việt Nam;
Thứ ba, Thành phố Hồ Chí Minh cam kết tiên phong triển khai Trung tâm tài chính quốc tế với tinh thần phụng sự lợi ích quốc gia và phát triển vì cả nước.
Tiếp theo, Đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội, trình bày tham luận về "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số". Nghị quyết số 10 thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển từ mục tiêu thu hút vốn đơn thuần sang thu hút có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và hiệu quả cao lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với Hà Nội, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Thành phố mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước; qua đó khẳng định vai trò tiên phong của Thủ đô trong triển khai các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 được Thành phố tổ chức ngày 29 tháng 6 đã cho thấy niềm tin, sự quan tâm và kỳ vọng lớn của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế đối với Hà Nội. Sự tham gia, trao đổi và cam kết đồng hành của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn như NVIDIA, Samsung, FPT, CMC và nhiều đối tác trong, ngoài nước là minh chứng sinh động cho thấy Hà Nội đang có cơ hội rất lớn để trở thành điểm đến của dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Từ thực tiễn đó, trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội sẽ tập trung một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút FDI thế hệ mới;
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp FDI và các ngành công nghệ chiến lược;
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo mô hình mạng lưới mở, tạo nền tảng thu hút các trung tâm R&D và các dự án FDI công nghệ cao;
Thứ tư, phát triển mạnh nguồn nhân lực số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số;
Thứ năm, xây dựng Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhân tài, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực.
Tiếp theo đó, đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Đà Nẵng tham luận nội dung “Giải pháp thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung”. Đồng chí Hồ Kỳ Minh cho biết: Thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất có quy mô rộng, lớn với nhiều dư địa phát triển và cơ chế ưu đãi phát triển. Thành phố có diện tích khoảng 11.860 km², dân số trên 3 triệu người; sở hữu hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, bao gồm hai sân bay quốc tế là Sân bay quốc tế Đà Nẵng và Sân bay quốc tế Chu Lai phục vụ cả hành khách và vận tải hàng hóa; hệ thống cảng biển nước sâu với Cảng Tiên Sa, Cảng Liên Chiểu đang được đầu tư trở thành cảng cửa ngõ quốc tế và Cảng Chu Lai, hình thành chuỗi logistics liên hoàn gắn với cao tốc Bắc – Nam, Hành lang kinh tế Đông – Tây và các tuyến hàng hải quốc tế. Thành phố đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch đặc sắc với 03 Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO ghi danh gồm Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn và Ma Nhai Ngũ Hành Sơn, cùng hệ sinh thái đa dạng với bán đảo Sơn Trà, Cù lao Chàm, hệ thống bãi biển đẹp và vùng núi, rừng rộng lớn.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Đà Nẵng đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển Khu thương mại tự do, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đó là:
Thứ nhất, phát triển Khu thương mại tự do theo mô hình thế hệ mới để thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao;
Thứ hai, chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và các ngành có giá trị gia tăng cao;
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ để giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư;
Thứ tư, phát huy vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Khu thương mại tự do;
Thứ năm, phát huy vai trò dẫn dắt liên kết vùng, tạo không gian phát triển chung cho khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Đặc biệt, Hội nghị lần này còn có sự tham gia và đóng góp ý kiến tham luận đến từ đại diện một số doanh nghiệp có vốn nước ngoài:
Ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam với bài tham luận về "Vai trò của Doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa". Ông Takuya Sahashi, đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi đưa ra một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm. Đặc biệt ông Takuya Sahashi phát biểu rằng: "Các doanh nghiệp Nhật Bản cam kết tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam và tất cả các bên liên quan nhằm hiện thực hóa tầm nhìn được đề ra trong Nghị quyết số 10".
Ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital đã trao đổi online về "Giải pháp phát triển thị trường vốn để khuyến khích dòng vốn nước ngoài có chất lượng", ông Dominic Scriven chúc mừng Việt Nam về việc ban hành Nghị quyết mới liên quan đến vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế. Theo quan điểm của Dragon Capital, đây là một Nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cộng đồng nhà đầu tư quốc tế. Nghị quyết đã khẳng định rõ rằng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế quốc gia Việt Nam. Điều đó thể hiện cam kết đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo dựng niềm tin và là thông điệp rất tích cực đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ông Dominic Scriven bày tỏ phấn khởi khi Nghị quyết xác định thị trường vốn và các nhà đầu tư trên thị trường vốn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút và phát huy hiệu quả của nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nhân dịp này, đại diện lãnh đạo Dragon Capital kiến nghị một số nội dung:
Thứ nhất là Chính phủ nghiên cứu cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp FDI giữ lại lợi nhuận tại Việt Nam thay vì chuyển toàn bộ ra nước ngoài. Một giải pháp có thể xem xét là xây dựng cơ chế lãi suất phù hợp đối với các khoản tiền gửi bằng đô la Mỹ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều này sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn ngoại tệ ổn định cho nền kinh tế.
Thứ hai là tiếp tục đẩy nhanh tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, hướng tới mục tiêu trở thành thị trường mới nổi trước năm 2030.
Thứ ba liên quan đến điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán. Theo đó Dragon Capital kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh quy định này theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thứ tư là tiếp tục thúc đẩy phát triển các trung tâm tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Cuối cùng là đẩy mạnh phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức trong nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng giúp thị trường vốn Việt Nam phát triển ổn định, bền vững và giảm phụ thuộc vào dòng vốn ngắn hạn.
Lãnh đạo Dragon Capital cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình phát triển thị trường vốn. Đồng thời, Dragon Capital cam kết tích cực hỗ trợ phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức trong nước, góp phần xây dựng một thị trường vốn Việt Nam ngày càng sâu rộng, hiện đại và bền vững.
Ông Micheal Kokalari, Chuyên gia kinh tế, Quỹ đầu tư VinaCapital, tham luận nội dung "Giải pháp thu hút các quỹ đầu tư để khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định". Theo ông Micheal Kokalari, ngày nay, Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. VinaCapital tin rằng Nghị quyết số 10, với định hướng tăng cường sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh lớn hơn cho nền kinh tế, đồng thời nâng cao hơn nữa sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư toàn cầu. Nhân dịp này, VinaCapital đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp Việt Nam tiếp tục thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới. Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng là điều hoàn toàn bình thường và đã được nhiều quốc gia áp dụng thành công. Ngay cả Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX cũng đã huy động nguồn vốn quốc tế, đặc biệt từ Luân Đôn, để xây dựng hệ thống đường sắt và phát triển hạ tầng quốc gia. Từ góc độ đó, VinaCapital đề xuất 4 khuyến nghị:
Thứ nhất, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thành mục tiêu được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi, sau khi đã được FTSE Russell nâng hạng trong thời gian qua. Đây sẽ là bước ngoặt quan trọng giúp thu hút dòng vốn đầu tư thụ động và chủ động quy mô lớn từ các quỹ quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam cần sớm đạt được xếp hạng tín nhiệm ở mức đầu tư (Investment Grade) từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như S&P, Moody's hoặc Fitch. Cùng với đó là đẩy nhanh việc đưa Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam đi vào hoạt động, qua đó tạo thêm một kênh quan trọng để thu hút dòng vốn quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) cũng như các hình thức huy động vốn khác. Điều này sẽ giúp mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, từ đó thu hút thêm nhiều nhà đầu tư quốc tế.
Thứ tư, để đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nâng hạng của MSCI, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung quan trọng. Trước hết là sớm triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Bên cạnh đó, cần cho phép triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với hoạt động đầu tư gián tiếp, tiếp tục xem xét nới lỏng các giới hạn về sở hữu nước ngoài ở những lĩnh vực phù hợp, đồng thời nâng cao hơn nữa các tiêu chuẩn về minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp.
Ông Micheal Kokalari cho biết ông có tình cảm rất sâu sắc đối với Việt Nam - đất nước ông đã gắn bó và sinh sống suốt hơn 20 năm qua. Ông Micheal Kokalari bày tỏ vinh dự khi được đồng hành cùng quá trình phát triển của Việt Nam trong chặng đường vừa qua và hy vọng sẽ tiếp tục được chứng kiến những thành tựu lớn hơn nữa của đất nước trong 20 năm tới.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị hôm nay và sự quan tâm theo dõi Hội nghị của đông đảo cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước. Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết số 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
Tinh thần của Nghị quyết số 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước. Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI ĐIỂM CẦU CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ


Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ
Tin mới nhất
- Ra mắt Công ty TNHH Giám định Sở hữu trí tuệ Quang Minh
- Cục Sở hữu trí tuệ kỷ niệm 44 năm thành lập: hoàn thiện thể chế, đổi mới vận hành, kiến tạo tương lai
- Chuỗi sự kiện tập huấn chuyên đề “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam ra nước ngoài” và tư vấn dành cho doanh nghiệp
- Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Mỹ Lung” cho sản phẩm gạo nếp gà gáy
- Lớp tập huấn về sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ các cơ quan quản lý của địa phương nhằm nâng cao chất lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
Các tin khác
- Việt Nam - Nhật Bản tăng cường hợp tác chuyên môn về sở hữu trí tuệ
- Quản trị và phát triển thương hiệu trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
- Sở hữu trí tuệ - Công cụ hữu hiệu thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
- Hội thảo “Các quy định pháp luật mới về sở hữu trí tuệ”
- Hội thảo về xác định giá trị tài sản trí tuệ tại thành phố Hồ Chí Minh